Hiện đại hóa đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức: tầm nhìn, mục tiêu, sứ mệnh
Người đăng: Sở Nội Vụ .Ngày đăng: 28/06/2017 .Lượt xem: 1375 lượt.

1. Chính sách quốc gia về hiện đại hóa công vụ

Nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng và hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chuyên nghiệp có đủ phẩm chất, trình độ và năng lực, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân, sự nghiệp phát triển của đất nước và hội nhập quốc tế, ngày 25/01/2016 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 163/QĐ-TTg phê duyệt Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2016 – 2025 (Đề án 163). Một trong những bài học kinh nghiệm quan trọng rút ra sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng là, trước những khó khăn, thách thức trên con đường đổi mới, phải hết sức chú trọng công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh; có quyết tâm chính trị cao với những biện pháp thiết thực, mạnh mẽ, đồng bộ, kiên quyết phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; chú trọng đổi mới công tác tổ chức - cán bộ, đẩy mạnh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí; phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ. Do đó, một trong những nhiệm vụ trọng tâm đặt ra hiện nay là: tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Ảnh minh họa. Nguồn: internet

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi đào tạo, bồi dưỡng (ĐTBD), huấn luyện cán bộ là “công việc gốc của Đảng”, rất quan trọng, phải được tiến hành thường xuyên dựa trên việc xác định rõ mục tiêu ĐTBD nhằm có được đội ngũ cán bộ có học thức, đạo đức cách mạng, tác phong và năng lực công tác phù hợp với từng giai đoạn cách mạng. Theo quan điểm của Người: học trước hết là “để làm việc”, “làm việc gì học việc đấy”, sao cho cán bộ, công chức (CBCC) làm ở lĩnh vực gì, phụ trách ở ngành nghề nào đều phải học cho thành thạo công việc ở lĩnh vực đó.

Hiện đại hóa đất nước không chỉ là tăng cường ứng dụng công nghệ hiện đại, không chỉ nhằm mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, mà còn nhất thiết phải đồng thời tiến hành hiện đại hóa hành chính công vụ, tức là phải tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng nền hành chính hiện đại nhằm đáp ứng sự đòi hỏi của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH-HĐH) đất nước, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều đó đòi hỏi phải xác định đúng vị thế có tầm nhìn chiến lược đối với nhiệm vụ xây dựng và từng bước hoàn thiện đội ngũ CBCC. Nhân tố quyết định của nền hành chính hiện đại là đội ngũ CBCC chuyên nghiệp hoạt động hiệu quả, do đó cần tạo lập các điều kiện và đặt ra những yêu cầu để xây dựng đội ngũ đáp ứng đòi hỏi của thời kỳ mới.

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quán triệt, tập trung làm tốt công tác xây dựng đội ngũ CBCC trên tinh thần: Đảng tập trung lãnh đạo về đường lối, chủ trương, xây dựng tiêu chí, tiêu chuẩn, cơ chế, chính sách cụ thể. Đẩy mạnh dân chủ hóa công tác cán bộ, quy định rõ trách nhiệm, thẩm quyền của mỗi tổ chức, mỗi cấp trong xây dựng đội ngũ CBCC có phẩm chất chính trị vững vàng, có trình độ năng lực chuyên môn phù hợp, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới. Để đội ngũ CBCC luôn là nhân tố quyết định của nền hành chính hiện đại, cần phải tiếp tục lãnh đạo quyết liệt việc xây dựng đội ngũ công chức theo hướng chuyên nghiệp, tinh thông nghiệp vụ và có phẩm chất đạo đức tốt.

CBCC là một bộ phận của hệ thống chính trị. Tính pháp quyền của hệ thống chính trị càng cao thì sự vận hành của bộ máy nhà nước càng hiệu quả. Hiện đại hóa công vụ tạo tiền đề hình thành các giá trị chính trị, phát triển văn hóa chính trị dân chủ, cải cách hành chính nhằm hoàn thiện hệ thống hành pháp, thể chế hóa thủ tục hành chính, xây dựng tổng thể các biện pháp phòng, chống tham nhũng. Để xây dựng và thực hiện chính sách quốc gia về hiện đại hóa nền công vụ, hoạt động hiệu quả, hiệu lực ngày càng cao cần hướng tới:

- Định hướng kịp thời những yêu cầu cần thiết trong phát triển kinh tế - xã hội, hoạt động của bộ máy nhà nước và các quan hệ quốc tế, đảm bảo tương thích với các lợi ích chung của dân tộc, quốc gia, trên cơ sở phù hợp với những đặc điểm văn hóa – xã hội, dân tộc, lịch sử của đất nước nhằm xây dựng, thực hiện chính sách CBCC và hệ thống quản lý nguồn nhân lực công vụ mới hiệu quả phù hợp với các yêu cầu, điều kiện hiện đại hóa cơ cấu tổ chức – bộ máy, thể chế hoá cơ chế vận hành, tiêu chuẩn hóa CBCC…

- Xây dựng chính sách phải có tính tổng thể và không mâu thuẫn; xem xét mọi vấn đề trong mối quan hệ với các vấn đề và quá trình khác nhau đảm bảo phù hợp với pháp luật, hiệu quả và đảm bảo công bằng xã hội. Nâng cao hình ảnh và uy tín nền công vụ thông qua việc hoàn thiện không ngừng hệ thống trả lương và thực hiện chính sách hướng tới mục tiêu xây dựng hình ảnh, đồng thời tăng cường đảm bảo xã hội và pháp lý cho CBCC; đẩy mạnh thực thi chính sách đạo đức hóa công vụ, củng cố kỷ luật nhà nước và lao động nhằm tạo lập, nâng cao, duy trì vị thế và uy tín của nền công vụ; hình thành và thực hiện các giá trị nhân văn, đạo đức công vụ. Hình ảnh tích cực của nền công vụ trước hết phải gắn với thực hành đạo đức công vụ.

- Nâng cao chất lượng và khả năng tiếp cận của dịch vụ công, định hướng xây dựng nền hành chính phục vụ (công dân là “khách hàng – thượng đế” của nền công vụ). Cung cấp dịch vụ công chất lượng cao trên cơ sở đảm bảo tính hiệu quả của tổ chức bộ máy nhà nước nhằm tạo niềm tin và được sự ủng hộ của đa số quần chúng nhân dân.

- Hoàn thiện hệ thống ĐTBD và phát triển CBCC phù hợp với thực tiễn của đất nước, học tập kinh nghiệm quốc tế, xem xét nhu cầu ĐTBD CBCC trong nước và ngoài nước.

- Hiện đại hóa hệ thống công vụ và ứng dụng công nghệ quản lý và thông tin hiện đại, xây dựng chính phủ điện tử hướng tới nâng cao chất lượng dịch vụ công; định hướng chất lượng công vụ theo các tiêu chuẩn khu vực và tiến dần tới tiêu chuẩn quốc tế.

- Xây dựng hệ thống phòng chống tham nhũng quốc gia phù hợp với điều kiện của đất nước.

- Tương thích với nguồn lực ngân sách, có khả năng và nguồn lực để hiện thực hóa và đạt được các mục tiêu đặt ra.

2. Chính sách quốc gia về hiện đại hóa đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức

Chính sách quốc gia về hiện đại hóa ĐTBD CBCC cần đáp ứng các yêu cầu do Đề án 163 đặt ra, đó là: nâng cao toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động ĐTBD CBCC, viên chức, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới; bảo đảm nâng cao năng lực, kỹ năng thực thi công vụ được giao; ý thức trách nhiệm, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp; tăng cường trách nhiệm và tạo điều kiện cho người đứng đầu cơ quan quản lý, người đứng đầu đơn vị sử dụng và bản thân CBCC, viên chức tham gia hoạt động ĐTBD một cách tích cực. Xây dựng hệ thống cơ sở ĐTBD phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao; thu hút và tạo điều kiện để các cơ sở đào tạo, nghiên cứu có đủ năng lực tham gia ĐTBD CBCC, viên chức; kế thừa và phát huy những kinh nghiệm hay về ĐTBD ở trong nước, đồng thời chủ động nghiên cứu kinh nghiệm tiên tiến của các nước, áp dụng phù hợp vào thực tiễn của Việt Nam, gắn ĐTBD với nhu cầu và quy hoạch sử dụng lâu dài. Theo tinh thần của Đề án 163, chính sách quốc gia về hiện đại hoá ĐTBD CBCC nhằm:

- Xây dựng hệ thống thể chế thống nhất, đồng bộ cho hoạt động ĐTBD CBCC, viên chức, phù hợp với điều kiện của Việt Nam và yêu cầu hội nhập quốc tế; hệ thống chính sách khuyến khích CBCC, viên chức học tập và tự học để không ngừng nâng cao trình độ và năng lực thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao;

- Tổ chức hệ thống quản lý và cơ sở ĐTBD CBCC, viên chức gọn nhẹ, khoa học, phù hợp với mục tiêu, yêu cầu nhiệm vụ ĐTBD;

- Tổ chức ĐTBD nâng cao năng lực hoạt động thực hiện nhiệm vụ, công vụ của CBCC, viên chức, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.

Trên cơ sở ý thức về việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, có tính cạnh tranh của nền công vụ trước những yêu cầu phát triển của đất nước trong tiến trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế; yêu cầu chuyên môn hóa bộ máy nhà nước với những CBCC, viên chức có thẩm quyền, trình độ chuyên môn cao và đạo đức tốt; từ chính sách, lộ trình phát triển tổ chức và nguồn nhân lực, cần xác định rõ nhu cầu, mục tiêu và kế hoạch ĐTBD của các cơ quan, đơn vị. Như vậy, ĐTBD CBCC phải được xác định là một nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng có ý nghĩa quyết định trong việc nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực công tác, chất lượng và hiệu quả làm việc của mỗi CBCC.

3. Về các giải pháp tổ chức thực hiện

Một là, có chính sách đầu tư thỏa đáng cho công tác ĐTBD CBCC. Chú trọng xây dựng và hoàn thiện cơ quan chuyên trách chăm lo và quản lý công tác ĐTBD CBCC, viên chức; các nguyên tắc và định hướng phát triển, tăng cường năng lực đội ngũ CBCC, viên chức là nhân tố then chốt đảm bảo tính cạnh tranh của nền kinh tế và đảm bảo phúc lợi cho nhân dân. CBCC, viên chức là đầu tàu của công cuộc đổi mới. Hiện đại hóa chính sách đối với CBCC, viên chức, bao gồm hiện đại hóa ĐTBD CBCC, viên chức phải trở thành một bộ phận của chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Chính sách đó cần được cân nhắc kỹ, có tính xây dựng hợp lý nhằm đảm bảo thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ đặt ra đối với Nhà nước. CBCC, viên chức phải là đầu tàu cải cách không chỉ hành chính, mà cả mọi vấn đề phát triển kinh tế - xã hội.

Hai là, xây dựng chính sách và kế hoạch ĐTBD CBCC, viên chức một cách khoa học trên cơ sở mục tiêu ĐTBD là cập nhật thông tin và những kiến thức mới tiên tiến, hiện đại, phù hợp với sự tiến bộ của khoa học, công nghệ và đòi hỏi của nền hành chính.

Ba là, đa dạng hóa các chương trình ĐTBD về hình thức và nội dung, cách thức (phương thức tổ chức khóa học). Ví dụ: ĐTBD theo ngạch, chức danh, vị trí việc làm; trước và sau khi bổ nhiệm hoặc tuyển dụng; trong nước và nước ngoài; chính quy, tại chức, từ xa… Thường xuyên đánh giá rút kinh nghiệm để đổi mới các chương trình ĐTBD về cả lý luận và thực tiễn đảm bảo đáp ứng những yêu cầu, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, phù hợp với nhu cầu của từng ngành, lĩnh vực quản lý nhà nước ở trung ương cũng như ở địa phương.

Bốn là, xây dựng nội dung chương trình ĐTBD phải phù hợp với yêu cầu của từng chức danh, từng vị trí công tác và trình độ của công chức. Có chương trình bắt buộc đối với công chức, trước hết là công chức mới được tuyển dụng, nhất thiết phải qua chương trình đào tạo cơ bản về lý luận, kỹ năng và nghiệp vụ hành chính, phong cách và văn hóa giao tiếp hành chính, về tinh thần, thái độ làm việc và trách nhiệm công vụ.

Năm là, thực hiện sự phối hợp thống nhất, đồng bộ, thường xuyên giữa các bộ, ngành và địa phương nhằm hỗ trợ và hợp tác trong xây dựng đội ngũ giảng viên và các nhà quản lý trong ĐTBD CBCC, viên chức. Đội ngũ đó cần được quan tâm về chế độ đãi ngộ vật chất và tinh thần, không ngừng được bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực giảng dạy/quản lý.

Sáu là, đảm bảo quản lý và khai thác có hiệu quả nguồn ngân sách đầu tư của trung ương, địa phương và các nguồn kinh phí khác, cũng như sự hợp tác với nước ngoài về ĐTBD. Việc quy hoạch và đầu tư xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho các cơ sở ĐTBD phải hướng tới đảm bảo các điều kiện thiết yếu như phòng học đủ tiêu chuẩn, thư viện, các trang thiết bị hiện đại, điều kiện sinh hoạt tốt, có nơi vui chơi giải trí, thể dục, thể thao, có môi trường thông thoáng, sạch sẽ, văn minh.

Bảy là, cần có lộ trình thực hiện tổng thể những nhiệm vụ mấu chốt quan trọng trong ĐTBD như:

- Xây dựng và ban hành danh mục các chức danh quản lý, chuyên môn, các quy định về yêu cầu và tiêu chuẩn đối với các chức danh đó làm cơ sở xây dựng và tiến hành công tác ĐTBD phù hợp, tương thích. Làm rõ và khẳng định tổng thể các quyền của CBCC, viên chức cần được ĐTBD theo Luật cán bộ, công chức, Luật Viên chức như: quyền được quyết định trong phạm vi thẩm quyền được giao, quyền được tôn trọng phẩm cách cá nhân, quyền được bảo vệ về mặt xã hội và pháp lý, quyền được thăng tiến chức nghiệp trên cơ sở đánh giá phẩm chất chuyên môn và năng lực, thực hiện tận tâm các trách nhiệm công vụ, v.v…

- Nâng cao hiệu quả hoạt động các cơ quan, tổ chức nhân sự (tổ chức cán bộ; nội vụ; quản trị nhân sự…). Hoàn thiện cơ chế tuyển dụng và đảm bảo nguồn nhân lực công vụ, đồng thời xây dựng và thực hiện hệ thống đánh giá CBCC, viên chức theo kết quả thực thi công vụ, trong đó xác định những nhu cầu về ĐTBD nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động. Tăng cường ứng dụng công nghệ trong đánh giá khách quan tính chuyên nghiệp của CBCC, giảm tối đa sự phụ thuộc vào mối quan hệ chủ quan với các nhà lãnh đạo. Cần phải có những hợp đồng và đảm bảo lợi ích tương xứng cho CBCC như một động lực thúc đẩy sự trung thành và tận tâm của họ đối với nền công vụ.

- Thực hiện các biện pháp dài hạn nhằm chuyên nghiệp hóa công vụ, như: hệ thống kế hoạch hóa chức nghiệp; các chương trình phát triển và ĐTBD đội ngũ CBCC, viên chức tương thích với các yêu cầu và tiêu chuẩn chức nghiệp; nghiên cứu và xây dựng mô hình hiệu quả phòng ngừa tham nhũng bằng việc thực hành chính sách loại trừ các nguyên nhân hoặc các điều kiện nảy sinh tham nhũng. Xây dựng và thực hiện nghiêm bộ quy tắc đạo đức đối với CBCC; hoàn thiện hệ thống tạo động lực trong thực thi công vụ; tự động hoá thông tin; mở rộng hệ thống ĐTBD từ xa.

- Giám sát và đánh giá thường xuyên, định kỳ các hiệu quả (xã hội và kinh tế) thực hiện các giải pháp ở từng giai đoạn để hoàn thiện thể chế, đề xuất các giải pháp về phương pháp và tổ chức thực hiện tương thích cho các giai đoạn kế tiếp.

- Hình thành hệ thống và vận hành thống nhất các cơ sở ĐTBD CBCC, viên chức từ trung ương đến địa phương. Đổi mới chương trình ĐTBD dựa trên các công nghệ và nguyên tắc quản lý nhà nước định hướng kết quả thực thi công vụ. Chương trình ĐTBD cần cung cấp tri thức, kỹ năng có tính thực hành và đáp ứng các mục tiêu, nhiệm vụ của nền công vụ, hướng tới xây dựng và đảm bảo “phẩm hạnh cao” của đội ngũ CBCC, viên chức đề cao các giáo trình nhân văn, tập trung xây dựng đội ngũ CBCC lãnh đạo đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa đất nước nói chung, nền công vụ nói riêng.

- Nhà nước cần đảm bảo sự phối hợp thống nhất các cơ sở ĐTBD CBCC, viên chức thuộc nền công vụ và hệ thống giáo dục quốc dân. Cần nâng cao nhận thức về vai trò, nhiệm vụ của hoạt động ĐTBD; trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị quản lý và sử dụng CBCC, viên chức trong việc bảo đảm chất lượng, hiệu quả ĐTBD. Không ngừng nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ, công vụ của đội ngũ CBCC, viên chức là giải pháp quan trọng hàng đầu góp phần xây dựng đội ngũ CBCC, viên chức chuyên nghiệp đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phù hợp với điều kiện thực hiện chính sách tinh giản biên chế của Đảng, Nhà nước. Quán triệt đầy đủ tư tưởng Hồ Chí Minh: “học để làm việc”, “làm việc gì thì học để làm việc ấy cho tốt”; đề cao tinh thần học và tự học; tăng cường nhận thức về trách nhiệm học tập suốt đời, tự giác nâng cao năng lực làm việc, năng lực thực thi nhiệm vụ, công vụ của đội ngũ CBCC, viên chức”º

PGS.TS. Lưu Kiếm Thanh - Phó Giám đốc Học viện Hành chính quốc gia

-----------------------------

Tài liệu tham khảo:

 1. Lưu Kiếm Thanh. Vai trò của chính phủ trong đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức. Tạp chí Quản lý nhà nước, số 3/2013 (206), tr. 3-11.

2. Lưu Kiếm Thanh. Phát triển nguồn nhân lực công vụ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Tạp chí Quản lý nhà nước, số 4/2015 (231), tr. 3-8.

Theo tcnn.vn


[Trở về]
Các tin mới hơn:
Khai giảng lớp bồi dưỡng năng lực, kỹ năng lãnh đạo, quản lý cấp sở năm 2017 tại Quảng Nam.
Các tin cũ hơn:
Phê duyệt Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2016-2025
Khai giảng lớp Bồi dưỡng ngạch chuyên viên chính.
Bồi dưỡng công tác nội vụ cho 244 cán bộ, công chức cấp xã các huyện, thành phố
Bế giảng lớp đào tạo tiếng Việt giao tiếp cho cán bộ huyện Là Màm, tỉnh Sê Koong, Lào
Đại Lộc: Khai giảng lớp Bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng hoạt động Trưởng, Phó thôn, khu phố năm 2013
Sở Nội vụ tổ chức các lớp bồi dưỡng công chức cấp xã năm 2013
Khai giảng lớp bồi dưỡng công chức Trưởng công an xã
Khai giảng khóa bồi dưỡng QLNN chương trình chuyên viên chính
Hội nghị tập huấn giảng viên nguồn
Nguồn nhân lực khoa học - công nghệ: Nguy cơ “hành chính hóa”
    
1   2